14:34' 27/06/2016
> Giới thiệu
Giá trị của tài sản trí tuệ và vô hình trong doanh nghiệp
      E-mail        
Trong cuốn sách “In his book Patent and Trademark Tactics and Practice”, David A. Burge kể trường hợp của ông Alexander Fleming, người đã phát hiện ra thuốc penicillin vào năm 1929. Khi đó, Fleming quyết định không lấy bằng độc quyền để phát hiện này có thể thương mại hóa mà không bị rào cản nào và có thể đưa vào sử dụng thương mại toàn cầu nhanh chóng.


TS. Đào Minh Đức trong phần chia sẻ về nguồn vốn trí tuệ tại
buổi sinh hoạt tại Trung tâm BSA

Hệ quả của sự “điên rồ” này là không có lá chắn của bằng độc quyền sáng chế thì không một đơn vị sản xuất thương mại nào dám bỏ tiền đầu tư để tìm ra công nghệ tinh lọc thuốc cũng như phát triển các kỹ thuật cần thiết để sản xuất. Vì khi sản xuất họ phải phải tính toán về hàm lượng, triển khai lâm sàng, kỹ thuật sản xuất, dây chuyền máy móc, họ sợ khi làm xong tốn cả đống tiền nhưng bị người khác làm theo giống như thế, bởi đây là loại thuốc không có bằng độc quyền.

                                             

Nhưng khi chiến tranh thế giới thứ 2 xảy ra, binh lính bị thương nhiều, Bộ Quốc Phòng Mỹ mới bắt đầu đầu tư bỏ tiền ra làm.

 

Câu chuyện trên được TS. Đào Minh Đức đưa ra trong buổi sinh hoạt pháp lý tại Trung tâm BSA cuối tuần qua.

 

TS. Đức cho rằng, chúng ta rất cần thiết phải biến sản phẩm trí tuệ thành quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) không sẽ bị người khác sở hữu mất. Ngày nay rất nhiều tập đoàn giàu có sẽ bỏ tiền ra mua đứt hoặc họ biết cách để biến quyền SHTT đó thành của họ.

 

Quản lý tài sản SHTT

 

Theo TS. Đức, một đơn vị sản phẩm trí tuệ ra đời nó có thể được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ khác nhau.

 

Nếu mình là người đầu tư tạo ra nó thì sẽ có quyền sở hữu nó. Nhưng TS. Đức khuyên không việc gì phải bán đứt quyền sở hữu, mà nên xem ai cần dùng như nào thì cấp li - xăng cho họ như thế.

 

“Triết lý của quản lý tài sản trí tuệ là hạn chế việc bán mà nên giữ lại để cấp li – xăng”, TS. Đào Minh Đức nói. Ở đây, người ta tính rằng, người mua đó dùng tài sản trí tuệ của người bán tới đâu, doanh thu kỳ vọng, chi phí dự kiến ra sao… thì giá trị giao dịch sẽ căn cứ vào đó để tính.

 

Vì thế, việc định giá tài sản SHTT là định giá trong năng lực khai thác mà doanh nghiệp này cấp cho doanh nghiệp khác về sáng chế hay li – xăng. “Nhưng ta phải hạn chế việc cấp quyền sở hữu. Trong trường hợp cấp thì việc thẩm định giá phải xách định được giá trị sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất của tài sản”.

 

TS. Đức cho hay, sản phẩm trí tuệ chỉ có thể thành tài sản khi trở thành đơn vị của quyền tài sản theo luật dân sự. Trong đó, sản phẩm trí tuệ muốn biến thành một đơn vị tài sản cụ thể thật thì phải biến thành quyền sỡ hữu trí tuệ.

 

Nguồn vốn vô hình trong mỗi doanh nghiệp

 

Chia sẻ với các doanh nghiệp tham gia trong buổi sinh hoạt, TS. Đức cho biết: Nhân sự không phải là tài sản của doanh nghiệp mà là nguồn vốn, bởi mỗi người được doanh nghiệp thu về có những thế mạnh khác nhau để làm lợi cho doanh nghiệp đó. Nhưng thông thường người được thuê về thường làm không hết khả năng của mình hoặc làm nhưng họ giữ lại cho mình nhiều điều lợi ích. Người ta gọi đó là những tri thức tiềm ẩn trong mỗi cá nhân. Nhà quản trị phải làm sao để người làm thuê đưa hết kinh nghiệm, kỹ năng, quy trình… để áp dụng trong doanh nghiệp.

 

Do đó, cần nhìn SHTT không chỉ là công cụ tham gia quản trị doanh nghiệp mà còn là nguồn lực đầu tư. Hiên nay, các tập đoàn, doanh nghiệp lớn liên tục sáng tạo ra các pantent và dùng các quy trình thủ tục SHTT trong nước, quốc tế “ém” quyền đó trước và đăng ký để không ai có thể làm được nữa.

 

TS. Đức nhận xét, “SHTT chính là cách mà các doanh nghiệp lớn làm để chiếm lĩnh thị trường về tay mình”. Nguồn vốn trí tuệ bao gồm nguồn nhân lực, các tài sản trí tuệ, các quyền SHTT… và đây là nhóm nguồn lực vô hình đầu tiên của một tổ chức.

 

Nguồn lực vô hình thứ hai là trong các giấy phép, trong các hợp đồng với các đối tác hay cơ quan nhà nước mà doanh nghiệp ký và có các ưu quyền, ưu quyền này sẽ cho doanh nghiệp một dòng thu nhập ổn định, có thể tính được.

 

Ngoài ra, tài sản vô hình của doanh nghiệp còn là các mối quan hệ, trạng thái vận hành, lợi thế pháp lý, lợi thế công nghệ, lợi thế tài chính, phân phối…

 

Nhìn sâu hơn, một bộ phận các tài sản trí tuệ này đều có thể chuyển hóa thành tài sản cố định vô hình và đây được xem như phần chìm giá trị của các doanh nghiệp. Nếu biết vận dụng, khai thác thì giá trị doanh nghiệp sẽ lên rất cao trong môi trường kinh doanh.



Bài, ảnh Quỳnh Trần


In bài
  Ý kiến của bạn
Họ tên : E-mail (*):
Tiêu đề :
Nội dung ý kiến :
Lưu ý: (*) là bắt buộc nhập
Các tin khác
Xem theo ngày :
Quảng cáo 2nd
Quy trình mang trái dừa ...
 
ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN BSA
 
Flash MP3 Player
12 CA KHÚC
Hát về hàng Việt

  QUẢNG CÁO 
Designed & Implementation by VietPho Co., Ltd.