Trước đây, doanh nghiệp Nhà nước là “mũi nhọn” là “cú đấm” để thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia. Những đơn vị này dùng nhiều nguồn lực nhất nhưng cũng là đơn vị nợ nhiều nhất.

Trong cuộc tọa đàm “Mô hình mới về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam” do Trung tâm BSA tổ chức tại TP.HCM vừa qua, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã chia sẻ nhiều vấn đề của nền kinh tế Việt Nam.

Bà Phạm Chi Lan cho biết, năm 2030 Việt Nam kỳ vọng sẽ trở thành nước thu nhập trung bình cao. Và trong 15 năm tiếp, tức là năm 2045 Việt Nam cố gắng trở thành một nước giàu.

Muốn làm được điều này phải thay đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Cần phân bố nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và sẵn sàng “loại bỏ” những mô hình kinh tế lạc hậu, kém phát triển.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng nên loại bỏ những doanh nghiệp Nhà nước kém hiệu quả

Nên để những “ung nhọt” của nền kinh tế “chết” theo thị trường

Bà Phạm Chi Lan cho rằng, trước đây, doanh nghiệp Nhà nước là “mũi nhọn” là “cú đấm” chính để thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia. Những đơn vị này dùng nhiều nguồn lực nhất nhưng cũng là đơn vị nợ nhiều nhất.

Theo bà Phạm Chi Lan, động lực tăng trưởng năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo thì: phải có đổi mới sáng tạo, có môi trường kinh doanh tốt, khắc phục các thất bại của thị trường.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan dẫn dụ, 12 dự án của Bộ Công Thương đưa ra, 3 năm nay không giải quyết được? Tại sao không cho “chết” hẳn? Trong khi mỗi năm tốn hàng ngàn tỉ để duy trì.

“Điều này gây lãng phí rất nhiều nguồn lực tích tụ vào đấy mà không giải quyết được”.

Hiện nay, 50% nguồn lực đang nằm trong tay doanh nghiệp Nhà nước, với khoảng 700 đơn vị. Nếu nguồn lực không được phân bố hiệu quả sẽ rơi vào tay vào những người sử dụng không hiệu quả, trong khi đó những người làm tốt thì lại không có nguồn lực để phát triển.

Muốn tăng trưởng TFP cần có 3 yếu tố. Yếu tố thứ nhất chính là phân bố nguồn lực hiệu quả trên phạm vi quốc gia và doanh nghiệp; yếu tố thứ hai là nâng cao hiệu quả của hoạt động của doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp mới là người tạo ra tăng năng suất, nên phải lấy doanh nghiệp là “nhân vật” chính để tăng năng suất; yếu tố thứ ba là nếu doanh nghiệp và ngành năng suất cao gia nhập thị trường thì thay thế cho doanh nghiệp và ngành năng suất thấp.

Bà Lan cho biết, những nước kém phát triển thường duy trì, níu giữ những mô hình cũ. Nhưng những thành công quá khứ không thể đảm bảo cho thành công của tương lai, nhất là trong thời kỳ thế giới liên tục thay đổi.

“Phải có sự đào thải, doanh nghiệp nào không đáp ứng được sẽ để tự thị trường loại bỏ, thấy “chết” mà không bỏ đi thì không phải là cách lành mạnh.

Làm sao bớt lệ thuộc vào doanh nghiệp FDI

Theo bà Phạm Chi Lan, việc phát triển dựa nhiều vào doanh nghiệp FDI phải có sự chọn lựa trong thời kỳ mới

Về động lực tăng trưởng, có yếu tố về cầu trong nước tăng nhờ tầng lớp trung lưu tăng, dự kiến năm 2030 có khoảng 35% tầng lớp này.

Nhưng vị chuyên gia kinh tế băn khoăn, cầu trong nước lớn, nhưng ai là người khai thác nhiều nhất. Đó không phải là doanh nghiệp trong nước mà là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI).

“Liệu rằng đây có phải là động lực giúp cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam hay không. Trong khi Việt Nam vẫn tính điều này vào tăng trưởng GDP, mà nó không thuộc của mình”, vị chuyên gia kinh tế nói.

Thực tế, những con số tăng trưởng trong thời gian qua, Việt Nam đang dựa rất nhiều vào FDI.

FDI đẩy Việt Nam vào sự thuộc rất lớn trong mọi thứ tăng trưởng, kể cả thành thích xuất khẩu. Điển hình 72% tỉ lệ xuất khẩu có được là từ FDI, trong đó có những doanh nghiệp FDI chiếm đến 25% (Samsung) giá trị xuất khẩu. Hơn 50% ngành công nghiệp chế tạo của Việt Nam nằm trong tay FDI. Điều này chứng tỏ, mức độ lệ thuộc của Việt Nam vào FDI là rất lớn. Và bài toán là Việt Nam có nên tăng tiếp sự lệ thuộc vào FDI nữa không, hay đã đến lúc 100 triệu dân chúng ta mới tự đứng được trên đôi chân của mình? Bà Lan đặt câu hỏi.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho biết thêm, kể cả thu nhập bình quân đầu người tăng cao cũng là “nhận vơ” của FDI, còn thực chất người dân Việt Nam không có được thu nhập đó.

Nên Việt Nam phải ưu tiên FDI như thế nào, chọn lọc ra sao, để tránh những “ông” mang công nghệ bẩn vào, gây ô nhiễm môi trường. Hay những FDI đầu tư vài chục năm vẫn báo “lỗ” để được miễn giảm thuế.

Bài, ảnh: Trần Quỳnh