Xuất xứ sản phẩm chọn mua: những thay đổi đáng ngại

Thông tin từ Cuộc điều tra HVNCLC 2018 | 09:27 11/02/2018

Kết quả khảo sát HVNCLC 2018 cho thấy, sản phẩm trong nước dù còn chiếm ưu thế trên thị trường với tỷ lệ số đông NTD yêu thích và thường mua dùng (60% và 70%) nhưng tỷ lệ này đã giảm đáng kể (lần lượt giảm 18% và 22%) so với kết quả khảo sát năm 2017.

Chen chân vào những “khoảng trống” này là các sản phẩm ngoại nhập có xuất xứ Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc,… đang từng ngày cạnh tranh giành niềm tin, chỗ đứng trong lòng người tiêu dùng Việt khi hàng Trung Quốc bị nhiều người quay lưng. Nếu như kết quả khảo sát HVNCLC 2017 cho thấy sản phẩm ngoại nhập từ Thái, Nhật, Hàn được NTD thường mua chỉ dưới 3%, thì đến nay đã tăng lên 8 - 10%, thậm chí có những sản phẩm như bánh kẹo, đồ uống, chiếm tỷ lệ mua dùng sản phẩm có xuất xứ từ Thái, Nhật, Hàn khá cao (12 - 17%).

 

Thái, Nhật, Hàn dần dân nổi lên trong sự lựa chọn của NTD

 

NTD thích thú với sản phẩm bên trong cửa hàng GS25 mới khai trương tại TPHCM

 

Tỷ lệ NTD yêu thích sản phẩm ngoại nhập có xuất xứ từ Thái, Nhật, Hàn cao hơn so với tỷ lệ mua dùng; tức là trong tương lai gần tỷ lệ mua dùng vẫn sẽ tăng lên khi NTD có đủ các điều kiện tiếp cận sản phẩm. Bên cạnh việc tận dụng tốt tâm lý “sính hàng ngoại” của NTD Việt, các doanh nghiệp Thái, Nhật, Hàn còn tận dụng được tâm lý thận trọng trong lựa chọn của khách khi “e dè/tẩy chay” hàng Trung Quốc (0,6%), bởi nhiều tai tiếng về chất lượng và sự an toàn. Ngoài ra, ở đây còn ẩn chứa nhiều nguyên nhân chủ quan, trong đó phải kể đến chiến lược thâm nhập thị trường rất căn cơ của DN Thái, Nhật, Hàn; đi liền với sự  lơ là và thiếu thận trọng của người Việt.

 

Một trong những vấn đề nổi cộm gần đây là “niềm tin của NTD vào thương hiệu Việt” có phần bị lung lay. Nhiều doanh nghiệp Việt làm ăn không minh bạch và thiếu chân chính, đã gây ảnh hưởng đến uy tín của hàng Việt trong lòng NTD, như trường hợp một chiếc khăn hai nhãn mác của thương hiệu Khaisilk. Hay những thương hiệu Việt càng có uy tín trên thị trường lại phải đối diện với mức độ rủi ro nhiều hơn, bởi nạn hàng gian, hàng giả. Tất cả không còn chỉ là câu chuyện riêng lẻ của từng DN, từng vụ việc, mà đó còn là câu chuyện của các cơ quan quản lý, kiểm duyệt và của cả NTD. Niềm tin của NTD vào uy tín của hàng Việt bị xói mòn, sẽ càng tạo ra những “lỗ hổng”.

 

Ưu thế từ mạng lưới bán lẻ

 

Sự thâu tóm hệ thống các kênh bán lẻ tạo lợi thế rất lớn đối với sự góp mặt, cũng như gia tăng giành thị phần cho sản phẩm. Nói cách khác, sản phẩm có xuất xứ từ các quốc gia thâu tóm được hệ thống các kênh bán lẻ, có lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Cụ thể, tính đến thời điểm hiện tại, bốn đại siêu thị được coi là lớn nhất Việt Nam, là Mega Market (tên gọi cũ là Metro) với 19 siêu thị, B’s mart có 75 cửa hàng tiện lợi (định hướng mở 3.000 cửa hàng), Big C có 32 siêu thị, Robinson với chuỗi siêu thuộc doanh nghiệp Thái Lan, chưa kể Central Group nắm 49% cổ phần hệ thống siêu thị điện máy Nguyễn Kim,… Nhật Bản có hệ thống đại siêu thị Aeon Mall, trung tâm thương mại Saigon Centre, hệ thống cửa hàng tiện ích như Family Mart, mới nhất là hệ thống 7-Eleven,… Hàn Quốc gắn liền với tên tuổi của Lotte, Emart, mới đây nhất là SG25… hệ thống bán lẻ là nhân tố quan trọng tạo được không gian để sản phẩm có thể tiếp cận, kết nối và từng bước chinh phục NTD.

 

Không chỉ dừng lại ở việc thâu tóm không gian kết nối NTD với sản phẩm, các doanh nghiệp Thái, Nhật, Hàn còn chủ động thực hiện nhiều chương trình kích hoạt nhằm đánh động “xúc cảm” để thu hút và chinh phục NTD, cùng với đó là sự hỗ trợ cần thiết và hiệu quả từ phía các cơ quan hữu trách của họ.

 

Có thể thấy, trong cuộc đua trên thị trường, sản phẩm của DN, quốc gia nào chinh phục được niềm tin của NTD, đang trở nên thắng thế.

 

Thông tin từ Cuộc điều tra HVNCLC 2018

Từ khóa :

NÊN ĐỌC

Đăng ký email để nhận các thông tin mới nhất