Ba câu chuyện của bạn tôi ngẫm lại không chỉ của riêng ai…

Câu chuyện thứ nhất

Ông bạn tôi, vốn là giám đốc marketing một nhãn hàng nước suối đóng chai có tiếng, vẻ mặt vừa hồ hởi vừa lo lắng chia sẻ: anh mới tổ chức một workshop nội bộ để các nhân viên và bộ phận liên quan trong công ty cùng thảo luận chủ đề “Thích nghi sao với xu hướng hạn chế sử dụng chai nhựa dùng một lần”.

Từ năm 2018, Tetra Park thành công trong việc sản xuất ống hút giấy kết hợp với 75% hộp giấy sản xuất mỗi năm. Ảnh TL: một workshop của Tetra Park

Hoá ra, với vai trò là giám đốc nhãn hàng, trong khi ngoài kia người ta rần rần chia sẻ nhau phong trào rất “đẹp”, thì nó lại là một nguy cơ lớn hiển hiện ra trước mắt với ngành hàng nước uống đóng chai các loại, đe doạ đến tương lai của các doanh nghiệp có liên quan. Điều mà trước đây nửa năm, không ai trong công ty thấy đó là một vấn đề cần phải bàn theo cách nghiêm trọng kiểu vậy. Rõ là quá nhanh, quá nguy hiểm rồi còn gì. Trong cái thời đại 4.0, một xu hướng mới cũng như một đốm lửa nhỏ, cơn bão chia sẻ mạng có thể thổi bùng nó lên trong chốc lát.

Nếu nhìn về hành vi tiêu dùng tại các nước Âu Mỹ, thì xu hướng trên đây tại Việt Nam sẽ không phải là phong trào có tính nhất thời, mà sẽ trở thành trào lưu tiêu dùng, ảnh hưởng đến toàn bộ những ngành hàng hiện nay vẫn đang sử dụng bao bì nhựa sử dụng một lần. Trong đó những ngành hàng nào mà các sản phẩm thay thế có nhiều hoặc không mang tính thiết yếu quá cao, sẽ bị ảnh hưởng trước tiên. Người tiêu dùng sẽ dần dần cân nhắc, bằng ý thức bảo vệ môi trường của mình, họ hạn chế mua hoặc sử dụng. Chẳng hạn, một người đang ăn tại nhà hàng, thay vì dễ dàng kêu một chai nước suối như trước đây, họ chuyển sang yêu cầu một cốc nước cam hoặc một ly trà đá. Nếu hàng triệu người nghĩ như vậy sẽ là nguy cơ lớn cho các nhãn hàng nước đóng chai. Doanh số bắt đầu suy giảm, bên cạnh việc mất khách hàng hiện tại, họ cũng không dễ “tuyển dụng” người mua mới. Một ngành hàng có khi phải “tái định nghĩa” lại mô hình sản phẩm vốn đã tồn tại cả mấy chục năm trời, vì một vấn đề rất “cấp tính” diễn ra trong vài tháng.

Câu chuyện thứ hai

Đầu tháng 4, anh Võ Lê, giám đốc công ty V.T chuyên về cung cấp các bao bì thực phẩm sử dụng vật liệu phụ phẩm nông nghiệp tái chế, đang đứng trước cửa sở Kế hoạch và đầu tư để làm… thủ tục phá sản, bỗng nhận được cuộc điện thoại từ một doanh nghiệp làm dịch vụ cho hệ thống các nhà hàng, khách sạn tại TP.HCM. Doanh nghiệp này thông báo với anh Lê là họ cần đặt một lượng hàng các sản phẩm hộp đựng thực phẩm thân thiện môi trường mà không cần quan tâm về giá, ký hợp đồng liên tiếp hai năm. Như người chết đuối vớ được cái phao, anh quay về, tái khởi động chuyền sản xuất và bất ngờ nhận được nhiều hợp đồng hơn nữa. Giữa tháng 6, anh gặp tôi khoe: bây giờ tôi sản xuất không đủ bán, nếu như mấy năm trước đi chào hàng khắp nơi, nhìn sản phẩm ai cũng khen, nhưng chẳng ai mua vì giá cao quá, xài đồ nhựa sướng hơn, thì bây giờ rất bất ngờ là nhiều nơi chủ động gọi đặt hàng. Họ chấp nhận mức giá trước đây từng chê đắt, đồng thời còn yêu cầu sản xuất mẫu mà độc quyền, in logo… tất cả để “khoe” với khách hàng của họ là mình đang phục vụ bằng các sản phẩm xanh, chứ không phải là bao bì nhựa. 70% khách hàng của anh là các nhà hàng, khách sạn sang trọng, các quán ăn mà chủ là các bạn trẻ. Anh nói vui: cái “phao” anh vớ được chính là phong trào tiêu dùng xanh đang sôi nổi khắp nơi, cộng đồng mạng chính là người ném cho anh cái phao ấy. Bản thân anh cũng không ngờ mọi thứ diễn ra nhanh như vậy, nhưng cũng rất tin tưởng xu hướng này sẽ chi phối rất nhiều ý thức và hành vi của người tiêu dùng Việt. Cơ hội vàng cho những doanh nghiệp như anh.

Nhiều doanh nghiệp đã nhanh chóng thay đổi bao bì thân thiện với môi trường. Ảnh: TL

Câu chuyện thứ ba

Tôi được mời thăm một cửa hàng tạp hoá lớn tại Đà Nẵng, đang được một doanh nghiệp cài đặt phần mềm quản lý cửa hàng. Đi cùng tôi có một trưởng bộ phận công nghệ bán lẻ. Sau khoảng hơn một tiếng cài chuẩn bị, có khách hàng đầu tiên bước vào mua một gói thuốc lá,  thay vì chủ cửa hàng cứ giao hàng, lấy tiền theo cách thông thường, thì bao thuốc này được scan qua máy tính tiền. Rồi các hãng có người đến giao hàng, chủ cửa hàng cũng làm động tác scan mã các sản phẩm và nhập số lượng như ghi trên hoá đơn trước khi mang vào kho ở phía sau. Mọi hàng hoá ra vào cửa hàng đều có thao tác scan ở giữa. Chủ cửa hàng hồ hởi: làm cái này trước mắt tôi được 500.000 đồng một tháng từ công ty (cung ứng giải pháp), đồng thời giúp tôi quản lý cửa hàng chặt chẽ hơn, giờ đây mọi thông tin về xuất – nhập – tồn hàng đều nằm trên máy, cuối ngày còn biết lợi nhuận được bao nhiêu. Như vậy, nếu chỉ nhìn vào chiếc máy tính tiền thôi thì thật ra nhiều cửa hàng đều có, nhưng thay đổi ở đây là từ giải pháp công nghệ bên trong. Một khi mô hình được nhân lên khoảng 3.000 – 5.000 cửa hàng trên toàn quốc, thì dữ liệu thu được từ mẫu lớn này có thể thay thế dịch vụ của các công ty nghiên cứu thị trường. Thậm chí, có thể cung cấp dữ liệu cho doanh nghiệp tại hầu hết ngành hàng với giá rẻ, độ chính xác cao, và theo… thời gian thực (real-time data). Theo tính toán của doanh nghiệp này, chi phí mua dữ liệu cho một ngành hàng có thể chỉ còn 1/10 so với trước đây mua theo cách truyền thống. Chất lượng dữ liệu sẽ đạt độ rộng, độ sâu, đo được những chỉ số mà trước đây chưa hề làm được. Ví dụ: sản phẩm sữa được bán mạnh nhất vào buổi chiều hay buổi sáng, mua kèm với thứ gì… Ngoài ra, công nghệ quản lý điểm bán lẻ được kết nối có thể tạo ra một hệ sinh thái phong phú các giải pháp về trade marketing, vốn trước đây do đặc thù kênh bán hàng truyền thống thường rất hạn chế (thường là giảm giá hoặc tặng phẩm hiện vật). Hãy tưởng tượng người mua hàng giờ đây có thể mua một thùng bia tại cửa hàng tạp hoá và nhận ngay một voucher xem phim qua điện thoại hoặc mua trà sữa ở một chỗ khác.

Ba câu chuyện trên tuy khác lĩnh vực, nhưng nói lên chung một vấn đề: với sự xuất hiện của những xu hướng mới, cộng hưởng với sức mạnh công nghệ có thể thay đổi cách chúng ta đang tư duy và tiếp cận một ngành hàng. Mô hình kinh doanh thay đổi “qua một đêm”, đặt một doanh nghiệp đứng trước một đại dương xanh nhu cầu tiêu dùng hoặc vực sâu của nguy cơ bị đào thải. Điều này đặt ra khái niệm mới cho doanh nghiệp, đó là “khả năng chuyển hoá năng lực nhanh” (fast capability transformation). Đó là việc hệ thống vận hành của doanh nghiệp hiện có sẽ ứng phó ra sao để thích nghi với sự thay đổi quá nhanh đó. Giống như vị giám đốc nhãn hàng của câu chuyện số 1, anh đánh giá nguy cơ của ngành hàng mình đang kinh doanh có thể giảm 10 – 20% doanh số một năm, trong khi tăng trưởng bình quân các năm qua thường chỉ một con số. Để “sống” được, cải thiện (improvement) là không đủ, mà phải là “chuyển hoá”, thay đổi về chất và bắt buộc mô hình kinh doanh phải được biến thể. Ai sẵn sàng hơn thì người đó thắng.

 

Phan Tường – Ninh Trần (theo TGHN)