Vào cuối ngày thứ hai, 23.7.2018, Tân Hoa Xã đưa một tin động trời: một trong những công ty sản xuất vắc xin lớn nhất nước này bị phát hiện làm giả số liệu và bán vắc xin kém chất lượng ra thị trường.

Vụ bê bối được phanh phui sau một cuộc kiểm tra đột xuất vào ngày 15.7, cục Quản lý giám sát dược phẩm Trung Quốc phát hiện công ty khoa học kỹ thuật sinh học Trường Sinh, tỉnh Cát Lâm làm giả các số liệu về số vắc xin phòng dại do họ sản xuất. Kinh khủng hơn, năm ngày sau, ngày 20.7, công ty Trường Sinh lại bị phát hiện bán 252.600 liều vắc xin kém chất lượng cho tỉnh Sơn Đông vào năm 2017. Đây là vắc xin 3 trong 1 phòng bệnh ho gà, bạch hầu, uốn ván được dùng cho trẻ em từ 6 tuần đến 3 tháng tuổi. Như vụ sữa melamine năm 2008, chất lượng thực phẩm và dược phẩm Trung Quốc lần nữa khắc sâu vào tâm trí người tiêu dùng nỗi sợ hãi, bất bình vì kiểu làm ăn vô lương tâm.

Việc Vinamit thắng kiện tại thị trường TQ trong vụ tranh chấp thương hiệu vừa qua, được xem là bước ngoặt lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Ảnh: TL

Nhưng giới kinh doanh dược phẩm ngấm ngầm tự hỏi, liệu sau điều tra, những liều vắc xin kém chất lượng này có lén tuồn sang thị trường Việt Nam quá gần và quá “thân thiện, dễ dàng”?

Từ khi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung nổ ra, nhiều giả thuyết đã được nêu lên, cảnh báo về tình hình tràn ngập hàng Trung Quốc “dội chợ” Hoa Kỳ, sẽ chảy sang Việt Nam. Cuộc chiến tranh làm nghiêm trọng thêm tình hình chuyển đổi quá nhanh của nền sản xuất Trung Quốc. Hệ thống robot dùng cho sản phẩm công nghệ cao được sử dụng ngày càng nhiều, ném ra đường hàng trăm nghìn công nhân có tay nghề. Cuộc chiến tranh gây ách tắc hàng hoá xuất khẩu dữ dội, và cũng làm nặng nề thêm tình hình thất nghiệp, nên Trung Quốc thẳng thắn hợp tác mở bảy khu sản xuất dọc theo biên giới. Nhất cử lưỡng tiện, vừa thay đổi được xuất xứ, vừa tận dụng được công nhân bị thải hồi hàng loạt từ các nhà máy.

Năm nay, 75% nông sản Việt Nam xuất sang thị trường Trung Quốc qua đường tiểu ngạch. Kinh nghiệm cay đắng được tiếp tục mổ xẻ. Ma thuật từ thị trường dễ tính khiến nhiều chuyên gia lên tiếng cần giảm dần mua bán qua thị trường đầy rủi ro này. Đến nay, sau hàng loạt vụ “giải cứu” diễn ra, hàng loạt vụ “dừng mua, lật kèo, biến mất” của thương lái người Hoa, nghiệm lại, làm ăn với thị trường Trung Quốc có mấy điều cần chú ý.

Từ bài học của Vinamit

– Tính bấp bênh của những hợp đồng miệng hay thoả thuận sơ sịa, không có bóng dáng của pháp luật.

– Chất lượng nào cũng mua, bất chấp xuất xứ, tạo thói quen dễ dãi trong đối xử với tiêu chuẩn và chất lượng, và ngay cả đặt cọc trước 30% cho chắc ăn, họ cũng sẵn sàng bỏ cọc.

– Tình trạng chiếm đoạt thương hiệu hay làm hàng giả, nhái. Ai làm ăn với thị trường này cũng nói, phải chấp nhận thực tế chắc chắn sẽ xảy ra đó và có giải pháp từ trước. Như với Vinamit là “kiện tới bến”, hay với cân Nhơn Hoà thì phải “sức bền đấu tranh mới thắng”. Nhưng hiếm doanh nghiệp nào dám theo đuổi đến cùng các vụ kiện. Không phải vì thủ tục mù mịt, mà vì chuyện đòi nợ chỉ có “tiền mất tật mang”, khiến họ đành bỏ qua nếu không muốn… mất mạng như trường hợp chị Hà Thuý Linh, công ty trà Ô Long Hà Linh.

Vụ kiện đòi lại thương hiệu, thắng kiện của Vinamit cũng là một trường hợp cần tham khảo. Cần chuẩn bị để không bị bất ngờ với tình hình, chính người cộng sự của mình giật thương hiệu của mình; rồi một ngày đẹp trời, hàng chính chủ của mình bị loại ra khỏi siêu thị, vì họ có giấy tờ pháp lý là chủ thương hiệu. Am hiểu luật pháp Trung Quốc, viện dẫn hiệp định thương mại TRIPS, nếu chứng minh được người chiếm thương hiệu lại là người có quan hệ làm ăn thân thiết với mình, thì mình thắng. Dù vậy, phải qua nhiều cấp toà cho đến giám đốc thẩm, với đội ngũ luật sư có đủ chứng cớ mà ông chủ Vinamit chuẩn bị cẩn thận từ trước, vụ việc mới được xử xong. Như vậy, con đường gian nan phải qua là: dự liệu tình trạng có thể bị “phản thùng” chiếm thương hiệu, có đội ngũ luật sư bảo vệ, và có đủ sức, cùng lòng kiên trì theo đuổi đến cùng.

– Nên mở công ty phân phối do chính người Trung Quốc điều hành. Nếu đưa người giỏi của Việt Nam qua đó, thì điều chắc là họ sẽ tìm cách mua chuộc lấy tin tức và lâu dần thì mất người luôn. Trường hợp họ “tiếp thu” toàn bộ mạng lưới khách hàng hay “chiếm công nghệ” vẫn thường xảy ra, khi họ cũng trả lương gấp đôi để rủ được đội ngũ kỹ thuật của công ty Việt.

Cơ hội còn đó, tận dụng thế nào?

Việc giảm dần khối lượng bán hàng tiểu ngạch, chọn những ngành hàng quan trọng, có kim ngạch xuất khẩu lớn chuyển qua xuất chính ngạch, cũng hoàn toàn không dễ dàng. Các tỉnh biên giới Việt Nam vẫn thích kiểu làm ăn này để có nguồn lợi cho tỉnh mình. Sản phẩm của ta còn kém về kỹ thuật chế biến, thậm chí còn xuất kiểu tươi sống là chính. Và nhất là Trung Quốc đánh thuế rất cao đến không thể chịu nổi cho sản phẩm kinh doanh chính ngạch (tổng cộng 38% thuế, cả thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng).

Không phải từ tình hình chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, ta chỉ gặp toàn rủi ro và bất thuận lợi. Cũng có những cơ hội được nhận thấy: có thể tăng xuất khẩu qua thị trường Mỹ lấp chỗ trống hàng hoá Trung Quốc đang bị khó khăn, và cũng có thể nhập nguyên liệu giá mềm từ Trung Quốc để sản xuất hàng xuất khẩu…

Nhưng từ thực trạng nhiều vướng mắc hiện nay: thiếu hiểu biết người tiêu dùng Trung Quốc (hành vi, thị hiếu), thiếu hiểu biết chính sách và luật pháp, thiếu đội ngũ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư hay kinh doanh Việt Nam, chúng ta nhận ra một vấn đề: rất cần có đội ngũ những người làm xúc tiến thương mại chuyên nghiệp cho thị trường này, trong khi chờ việc chuyển đổi sang thị trường chính ngạch nhiều hơn.

Đội ngũ này nên có đa số là người Trung Quốc, am hiểu thị trường, luật pháp và chính sách, có tin cậy và ràng buộc rõ ràng, để cùng với những nhà xúc tiến chuyên nghiệp của Việt Nam tác chiến, không chỉ một mà cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam, muốn được bảo vệ nhiều hơn ở thị trường này.

Khi đã không thể “dọn” đất nước mình đi đâu, và thị trường Trung Quốc quá rộng lớn vẫn là mối thèm khát đầy hấp dẫn béo bở của nhiều nước phát triển; thì ta nên quan niệm lại, chuẩn bị lại cho một giai đoạn mới. Còn nếu cứ “rề rề” tới đâu hay tới đó như hiện nay, thì không chỉ bị “văng miểng” bươu đầu sứt trán; mà có khi còn thua lại dài dài và chịu một ảnh hưởng vô cùng lớn cho nền kinh tế – thương mại nước mình.

Từ thực trạng nhiều vướng mắc hiện nay: thiếu hiểu biết người tiêu dùng Trung Quốc (hành vi, thị hiếu) và chính sách – luật pháp, thiếu đội ngũ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư hay kinh doanh Viêt Nam, chúng ta nhận ra một vấn đề: cần đội ngũ người làm xúc tiến thương mại chuyên nghiệp cho thị trường này, trong khi chờ việc chuyển đổi sang thị trường chính ngạch nhiều hơn.

 

Theo Kim Hạnh (TGTT