Làm gia công, giá trị… âm

Khó khăn đầu tiên phải kể đến sự phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu. Năm 2017, theo số liệu của bộ Nông nghiệp, ngành điều sử dụng khoảng 1,5 triệu tấn nguyên liệu chế biến, xuất khẩu 353.000 tấn nhân điều, tăng 1,9% về lượng và 23,8% giá trị (khoảng 3,5 tỷ USD) so với năm 2016. Tuy nhiên, để có được con số này, doanh nghiệp ngành điều phải bỏ ra hơn 2,5 tỷ USD để nhập hơn 1,2 triệu tấn nguyên liệu. Còn sáu tháng đầu năm 2018, xuất 176.000 tấn điều nhân, trị giá 1,7 tỉ USD; nhưng phải bỏ ra 1,15 tỷ USD để nhập 537.000 tấn nguyên liệu.

Nguyên liệu hay chế biến điều, quan trọng ngang nhau

Dù Việt Nam cung cấp điều nhân số một thế giới, nhưng thực chất chỉ là những “nhà gia công”. Ông Hồ Ngọc Cầm, nguyên chủ tịch hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), hiện là giám đốc công ty xuất nhập khẩu nông lâm sản Phương Minh cho rằng, vùng nguyên liệu khoảng 300.000ha điều hiện nay đã có từ cách nay… 15 năm trước. Đến nay, diện tích không những không tăng mà đang giảm dần, còn trên dưới 300.000ha và sản lượng cũng chỉ loanh quanh 300 – 400.000 tấn. Nhiều năm nay, theo ông Cầm, Việt Nam không quan tâm đến phát triển vùng nguyên liệu, thiếu nghiên cứu giống điều mới, cũng như dành quỹ đất để phát triển tương xứng với tốc độ phát triển. “Đây là điều bất cập, vì khi đẩy mạnh công suất phải phát triển vùng nguyên liệu tương xứng. Ngoài ra, doanh nghiệp thiếu tiềm lực vốn, kinh nghiệm nên khi mua qua trung gian cũng không chủ động giá cả, thường bị thua thiệt”, ông Cầm nói.

Càng làm càng lỗ

Trong thời gian ngắn có hàng ngàn nhà máy điều ra đời. Có những tỉnh như Bình Phước, Long An, theo Vinacas, trong thời gian ba năm gần đây phát triển mới hơn 1.000 nhà máy.

Gọi là nhà máy cho sang, còn đúng nghĩa là các lò chẻ tư nhân, có công suất chỉ dưới 3 tấn/ngày. Vinacas tính toán, để có một nhà máy chế biến điều công suất 90 tấn/tháng, tương đương 1.000 tấn/kg, chỉ cần diện tích khoảng 500 – 1.000m2, vốn đầu tư 3 tỷ đồng mua nồi hơi, nồi hấp, máy chẻ, máy bóc vỏ lụa, máy đóng gói, phân loại… của Trung Quốc là đủ. Hầu hết các lò điều tuy làm ra đến sản phẩm cuối cùng, nhưng không trực tiếp xuất khẩu, mà bán lại cho nhà máy lớn. “Với công nghệ như vậy, chất lượng điều Việt Nam kém, không đảm bảo an toàn vệ sinh là phải”, giám đốc một doanh nghiệp điều nói. Ngoài ra, việc có hơn 60% lò điều tham gia sản xuất đã làm thị trường rối loạn, mạnh ai nấy bán, bị môi giới lừa gạt, làm giá…

Ngành điều hiện đang thiếu vốn. Trong cuộc họp với ngân hàng gần đây, Vinacas lên tiếng cần được giải ngân gói tín dụng 800 triệu USD giúp doanh nghiệp lấy 530.000 tấn điều nguyên liệu còn tồn ở các kho ngoại quan. Ông Cầm phân tích, trước đây khi công suất 600.000 – 700.000 tấn, ngân hàng đáp ứng được. Còn nay vọt lên 1,5 – 1,7 triệu tấn, giá điều nhập khẩu tăng gấp ba lần, mức 2.000 – 2.200 USD/tấn. nên ngân hàng không thể đáp ứng. Đa số doanh nghiệp thiếu vốn lưu động, phải vay nóng bên ngoài dẫn đến hậu quả mua giá cao, bán giá thấp.

Năm 2017, ông Cầm dẫn chứng: điều nhập kho bình quân khoảng 50 triệu đồng/tấn. Chưa tính chi phí lãi vay, lương, điện nước, khấu hao máy móc, riêng nguyên liệu là 200.000 đồng/kg điều nhân xuất khẩu, nhưng giá bán chưa tới 10 USD/kg. Sáu tháng đầu năm 2018, tình cảnh thua lỗ còn nặng hơn khi giá nguyên liệu không giảm, nhưng chỉ chào bán điều nhân 7,5 – 8 USD/kg. Ông Cầm cho rằng, nếu Vinacas không sớm chấn chỉnh vấn đề bán tháo, ngân hàng không rót vốn kịp thời, hậu quả sẽ rất lớn, vì cứ bình quân 1 tấn nguyên liệu đưa vào chế biến nếu bán dưới 8 USD/kg, lỗ ít nhất 10 triệu đồng. “Như năm nay nhập 1 triệu tấn nguyên liệu, số lỗ chừng 10.000 tỷ đồng”, ông Cầm nói tiếp.

Trong cuộc họp mới đây, Vinacas khuyến cáo doanh nghiệp không nên bán tháo hàng, vì thị trường nhân điều thế giới vẫn ổn định. Ấn Độ, quốc gia xuất khẩu điều vẫn bán hơn 9 USD/kg. Đã đến lúc ngành điều cần loại bỏ tư duy thành tích xuất khẩu, hoạch định chiến lược dài hạn đầu tư nguyên liệu, giảm bớt phụ thuộc nhập khẩu, bớt gia công…

bài, ảnh Bảo Anh (TGTT)