Từ gáo dừa, thân dừa, trái me, lêkima đến đồ mẹ và bé đã qua sử dụng, yến chưng nóng, bánh canh từ nông sản hay chả cá rô phi nước lợ, các dự án Bảng B tại vòng bán kết Khởi nghiệp Xanh lần thứ 12 – 2026 tại TP.HCM đang cho thấy nhiều cách khác nhau để biến tài nguyên và những vấn đề của đời sống thành sản phẩm. Nhưng qua phần chất vấn của ban giám khảo, câu chuyện được đẩy thêm một bước, sản phẩm có gì khác biệt, khách hàng nào sẽ mua, giá bán dựa trên đâu và mô hình có đủ sức vận hành để tạo lợi nhuận?
Từ gáo dừa đến vật liệu cho ngành kính
GreenLayer Materials – Polytera, bột/xốp tách kính sinh học từ gáo dừa và bột gỗ, của nhóm Nguyễn Nhật Tuý, Trịnh Thị Hồng là một trong những dự án được ban giám khảo đào sâu vào câu chuyện công nghệ.
Dự án bắt đầu từ một vấn đề khá đặc thù của ngành kính. Vật tư chèn, tách kính trong quá trình sản xuất, vận chuyển và lưu kho tuy nhỏ nhưng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, gây trầy xước, bám dính và làm tăng tỷ lệ phế phẩm.
Polytera sử dụng gáo dừa và bột gỗ làm nguồn biomass để tạo ra vật liệu tách kính sinh học. Theo dự án, sản phẩm hướng đến ba yêu cầu: không làm trầy xước bề mặt, không bám dính dầu và có thể đưa vào dây chuyền hiện hữu mà không phải thay đổi quy trình hay thiết bị.
Dự án chọn ngành kính công nghiệp Nhật Bản làm thị trường đầu tiên. Một phần nguyên liệu sau xử lý cũng được chuyển sang làm nguyên liệu sản xuất nhang, theo cách tiếp cận “một nguyên liệu, nhiều đời giá trị”.
Giám khảo Nguyễn Khắc Minh Trí đi thẳng vào công nghệ cốt lõi. Nếu chỉ nghiền gáo dừa thành bột thì xưởng gia công nào cũng có thể làm. Vậy công nghệ thực sự thuộc về Polytera là gì? Dự án đã đăng ký sáng chế hoặc bảo hộ quy trình hay chưa?
Giám khảo Ngô Đình Dũng tiếp tục hỏi về vai trò của Polytera trong chuỗi khi dự án đã có xưởng gia công và đối tác Nhật Bản. Nếu xưởng có máy móc, đối tác có nhu cầu thì Polytera đang giữ phần giá trị nào?
Trong khi đó, giám khảo Trần Nguyễn An Ninh đặt vấn đề về việc tìm đối tác và nguy cơ phụ thuộc vào một đối tác.
Phía dự án giải thích, điểm khác biệt không nằm ở công đoạn nghiền gáo dừa mà ở quy trình xử lý, đặc biệt là tách dầu trong gáo dừa. Đây là khâu quan trọng bởi dầu dừa bám vào kính là điều ngành kính không chấp nhận.
Nhóm thí sinh cho biết, Polytera đã mất ba năm hợp tác với đối tác Nhật để hoàn thiện quy trình. Dự án hiện trong quá trình đăng ký bảo hộ sáng chế nên chưa thể tiết lộ chi tiết kỹ thuật.
Theo phần trình bày, Polytera giữ vai trò kết nối và cải tiến quy trình sản xuất. Xưởng gia công có máy nghiền thông thường nhưng chưa đáp ứng tiêu chuẩn ngành kính; đối tác Nhật có nhu cầu nhưng chưa tìm được xưởng phù hợp. Polytera đứng giữa, cải tiến quy trình của xưởng để tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu của đối tác.
Không ôm hàng, nhưng phải kiểm soát được từng món đồ
Với dự án Recyme, câu chuyện lại nằm ở thị trường đồ mẹ và bé cao cấp đã qua sử dụng.
Hai vợ chồng Trần Ngọc Đăng Khoa và Nguyễn Thị Hữu Duyên đồng sáng lập dự án nhìn thấy nhu cầu mua lại những sản phẩm chất lượng cao để tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, thị trường mua bán đồ cũ trực tuyến phát sinh nhiều rủi rdự án o: thông tin thiếu minh bạch, hàng có lỗi nhưng người bán không nói rõ, đóng gói không đúng cách hoặc xảy ra lừa đảo.
Recyme xây dựng nền tảng website và đóng vai trò trung gian kiểm định. Người ký gửi chỉ cần liên hệ, hệ thống tiếp nhận hàng, kiểm định, chụp ảnh, niêm yết và cập nhật dữ liệu cho người gửi.
Giám khảo Trần Lan Anh đặt câu hỏi về khả năng vận hành khi dự án phải xử lý nhiều khâu cùng lúc, từ hàng hóa đến việc chạy quảng bá.
Giám khảo Nguyễn Khắc Minh Trí thắc mắc về chi phí lưu kho và đầu ra. Hàng được nhận về rồi bán ra thị trường như thế nào, mức phí được tính ra sao?
Trong khi đó, giám khảo Hồ Ngọc Phương Thảo, câu hỏi trở nên cụ thể hơn, nếu máy móc nhận ký gửi như máy hút sữa hoặc sản phẩm có pin bị hư thì xử lý thế nào? Nếu khách mua về rồi phát sinh lỗi thì ai chịu trách nhiệm?
Đây cũng là lúc hai nhà sáng lập đưa ra những con số để giải thích mô hình. Họ cho biết không mua đứt hàng nên không phải ôm hàng tồn. Diện tích kho hiện tại chỉ khoảng vài chục m² nhưng doanh thu đạt hơn 400 triệu đồng/tháng.
Với hàng chậm bán, sau 30 ngày dự án chủ động giảm giá phù hợp. Sau 120 ngày nếu vẫn chưa bán được thì chuyển sang bán đồng giá hoặc xả hàng. Phí dịch vụ trung bình ở mức 25–28%, tùy giá trị sản phẩm.
Đối với các thiết bị như máy hút sữa, dự án cho biết kiểm tra toàn bộ bằng thiết bị chuyên dụng, trong đó có đo lực hút và độ hao pin trước khi nhận ký gửi.
Theo dự án, yếu tố “xanh” không đến từ một vật liệu mới. Nó nằm ở việc đưa sản phẩm đã qua sử dụng trở lại vòng đời tiêu dùng, nhưng muốn làm được điều đó, doanh nghiệp phải xây dựng được niềm tin về chất lượng.
Yến nóng trong 60 phút – lời hứa thương hiệu hay áp lực vận hành?

Trong phần trình bày của dự án Giữ trọn vị yến Việt từ Tây Ninh của nhóm Ngô Nhật Tân, Võ Thị Thuỳ Dương, Châu Hoàng Thịnh, Dự an làm về yến chưng nóng giao tận nơi trong 60 phút chọn tốc độ làm điểm khác biệt.
Mô hình đặt các điểm vệ tinh gần bệnh viện, phòng khám và khu dân cư đông đúc, với bán kính phục vụ khoảng 6 km. Quy trình được chia thành 10 phút xác nhận đơn và chuẩn bị nguyên liệu, 35 phút chưng yến nóng và 15 phút giao hàng.
Mỗi điểm vệ tinh có chi phí đầu tư khoảng 60 triệu đồng. Sản phẩm chủ lực là hũ 100 ml, giá 85.000 đồng, bán theo set tối thiểu sáu hũ, khoảng 500.000 đồng một set.
Nhưng chính cam kết “60 phút” lại trở thành điểm bị chất vấn. Giám khảo Trần Nguyễn An Ninh đặt vấn đề, người mua yến thường có kế hoạch trước, chẳng hạn mua để đi thăm bệnh, chứ không phải lúc nào cũng phát sinh nhu cầu tức thời. Trong khi đó, giao hàng phụ thuộc vào tắc đường và giờ cao điểm… Vậy cam kết 60 phút có tạo ra rủi ro cho chính thương hiệu hay không?
Giám khảo Ngô Đình Dũng nhìn từ phía người tiêu dùng. Nếu mua yến để làm quà, trên thị trường đã có nhiều sản phẩm khác, nhiều có sản phẩm giá thấp hơn nhưng dinh dưỡng tương đương. Vậy yếu tố nào khiến khách hàng chọn?
Giám khảo Hồ Ngọc Phương Thảo lại nhìn về cách sử dụng và bảo quản, nếu khách hàng ăn không hết, để trong tủ lạnh rồi lấy ra ăn lại thì sản phẩm có thay đổi hay không?
Trong khi đó, giám khảo Trần Lan Anh cho rằng sản phẩm cần làm rõ hơn sự khác biệt về hàm lượng chất, bởi cảm giác ban đầu là sản phẩm đang đứng giữa nhiều lựa chọn trên thị trường.
Phía dự án giải thích, 60 phút được tính từ thời điểm xác nhận đơn hàng. Khách có thể đặt trước giờ nhận, chẳng hạn 7 giờ đặt để 8 giờ có yến nóng đi thăm bệnh. Nguyên liệu và topping cũng được chia sẵn theo từng set để thao tác chưng tươi nhanh hơn tại các bếp vệ tinh. Như vậy, “60 phút” không chỉ là một câu quảng bá. Nó kéo theo cả một hệ thống vận hành phía sau.
Lêkima – bán câu chuyện vùng đất hay bán giá trị dinh dưỡng?
Olima – Nâng tầm giá trị nông sản vùng đất anh hùng đưa trái lêkima, còn gọi là quả trứng gà, vào chế biến thành bánh snack của thí sinh Nguyễn Ngọc Lan. Theo Lan, lêkima có năng suất cao, giàu dinh dưỡng và carotenoid, trong đó có beta-carotene, tiền vitamin A. Tuy nhiên, thiếu đầu ra chế biến khiến loại trái này chưa phát huy hết giá trị.
Dự án sử dụng công nghệ sấy lạnh và chiếu tia UV để xử lý nguyên liệu, hướng tới sản phẩm snack lêkima. Lộ trình 2026–2027 là liên kết với nông dân mở rộng vùng nguyên liệu, sau đó phát triển thêm hệ sinh thái sản phẩm.
Giám khảo Trần Nguyễn An Ninh nhận xét sản phẩm thú vị và đặt câu hỏi về đối tượng khách hàng khi dự án có nhiều dạng sản phẩm như ăn trực tiếp, sấy dẻo và bột, đồng thời hỏi về mức giá.
Giám khảo Ngô Đình Dũng đi vào giá trị dinh dưỡng, câu chuyện địa phương và yếu tố lịch sử được đưa vào sản phẩm.
Ở phần chất vấn tiếp theo, mức giá dự kiến 120.000 đồng/hộp 145 gram được đặt cạnh các loại snack thông thường khoảng 30.000 đồng. Ban giám khảo cũng cho rằng bao bì hiện tại chưa tạo được cảm giác tương xứng với mức giá.
Câu chuyện Võ Thị Sáu và quê hương Đất Đỏ cũng được đặt ra. Với nhóm khách hàng trẻ, dự án cần cân nhắc cách kể câu chuyện lịch sử để không trở thành một chi tiết trang trí mà phải gắn với giá trị sản phẩm.
Phía dự án xác định khách hàng là khách du lịch tại các điểm tham quan, phố tàu, tuyến đường đảo và nhóm người tiêu dùng thích ăn vặt lành mạnh. Mức giá 120.000 đồng hiện được xem là định vị ban đầu; dự án thừa nhận bao bì chưa bắt mắt và kỳ vọng khi công nghệ, quy mô sản xuất được tối ưu, giá thành có thể giảm.
Đồ dừa Vĩnh Long: nguyên liệu nhiều, khác biệt mới khó

Với dự án Đồ gia dụng thủ công mỹ nghệ từ thân cây dừa già của Vĩnh Long tận dụng thân dừa bị đốn bỏ để làm tô, chén, đĩa, vá cơm và đũa của Trần Thị Lan Phương đưa ra tiêu chí “3 không”: không chất bảo quản, không sơn bóng công nghiệp và không rác thải vi nhựa.
Quy trình cũng hướng tới tận dụng tối đa nguyên liệu. Lõi tô lớn được dùng làm chén nhỏ, phần mảnh thừa làm gạt đũa, bụi dừa được gom làm chất đốt. Sản phẩm hiện được bán theo hợp đồng xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản và bán sỉ cho nhà hàng tại một số địa phương du lịch biển.
Giám khảo Trần Lan Anh đặt câu hỏi về điểm độc đáo của sản phẩm, bởi đồ gỗ dừa trên thị trường vốn đã có rất nhiều. Ban giám khảo cũng đặt vấn đề dự án đang đi theo hướng gia công OEM hay xây dựng thương hiệu riêng. Nếu chủ yếu làm hàng xuất khẩu, làm thế nào để người tiêu dùng trong nước nhận biết sự khác biệt về quy trình kỹ thuật, thay vì chỉ so sánh giá với đồ dừa bán ở chợ?
Phía dự án cho biết hiện tại chủ yếu gia công theo hợp đồng xuất khẩu và bán sỉ cho nhà hàng. Quy trình sản xuất phức tạp, đạt chuẩn xuất khẩu nên chi phí cao và chưa thể cạnh tranh về giá với những sản phẩm dừa phẩm cấp thấp trên thị trường truyền thống.
Câu chuyện ở đây vì thế không chỉ là tận dụng thân dừa già. Đó còn là bài toán xác định doanh nghiệp muốn đứng ở đâu trong chuỗi giá trị: gia công, cung cấp sản phẩm hay xây dựng thương hiệu.
Mứt me ít đường từ sản phẩm truyền thống đến cuộc chơi của người trẻ
Mứt Me Kim Anh bắt đầu từ một nghịch lý quen thuộc của nông sản, được mùa mất giá, trong khi chế biến sâu còn hạn chế, nên Võ Thị Kim Anh phát triển mứt me ít đường, sử dụng công nghệ sấy kết hợp nhà phơi năng lượng mặt trời. Ban ngày tận dụng năng lượng mặt trời, ban đêm sử dụng máy sấy nhằm tiết kiệm điện và giảm phụ thuộc thời tiết. Hạt me được tận dụng làm phân bón hoặc thức ăn chăn nuôi.
Mục tiêu của dự án là doanh thu 15–20 tỷ đồng/năm trong ba năm tới. Tỷ lệ lợi nhuận ròng hiện tại 15,5%, mục tiêu đến năm 2029 đạt 22,5%. Trong phần chất vấn, giám khảo Trần Nguyễn An Ninh lần lượt đặt câu hỏi về sản phẩm và thị trường.
Giám khảo Trần Lan Anh gợi ý dự án có thể nhờ các bạn trẻ tham gia sáng tạo thêm hương vị mới, bởi nhóm khách hàng trẻ có xu hướng tìm kiếm những cách thưởng thức khác với sản phẩm truyền thống.
Giám khảo Hồ Ngọc Phương Thảo đánh giá sản phẩm ngon nhưng đặt câu hỏi về vùng nguyên liệu và tiêu chuẩn nguyên liệu. Một vấn đề khác được đặt ra là hạn sử dụng. Sản phẩm chỉ giữ được khoảng 45 ngày ở nhiệt độ thường, sáu tháng khi bảo quản lạnh.
Bao bì cũng được nhận xét còn truyền thống và chưa thật sự thuận lợi cho việc bán trên TikTok hay thương mại điện tử. Đặc biệt, “ít đường” được cho là chưa đủ mạnh để trở thành một sản phẩm khác biệt.
Phía dự án cho biết sản phẩm làm hoàn toàn tự nhiên, không dùng chất bảo quản. Hiện Shopee và TikTok đóng góp khoảng 25% doanh số.
Đưa hạt sen, lá hẹ, bí đỏ vào một sợi bánh
Dự án từ tỉnh Đồng Tháp là Sợi Bánh Giá Trị Từ Nông Sản Việt của nhóm Lê Thị Mỹ Ngọc, Nguyễn Minh Tiến và Trần Thị Diễm My tiếp cận bài toán nông sản theo một cách khác: đưa trực tiếp nguyên liệu vào sợi bánh canh. Dự án có ba dòng gồm bánh canh hạt sen, bánh canh lá hẹ và bánh canh bí đỏ. Công nghệ cấp đông sâu -40°C cho phép bảo quản sản phẩm 12 tháng mà không cần chất bảo quản hay phụ gia. Dự án hiện tạo việc làm cho 36 lao động, 60% là nữ; liên kết với 100 hộ trồng hẹ và bốn hộ trồng bí đỏ.
Giám khảo Trần Nguyễn An Ninh hỏi về khách hàng chính và đối thủ cạnh tranh. Với mức giá 85.000–105.000 đồng/gói, sản phẩm cao hơn nhiều so với bánh canh bán tại chợ. Vậy ai sẽ là người sẵn sàng trả mức giá này? Bà An Ninh cũng đặt vấn đề về hạn sử dụng một năm mà không dùng chất bảo quản và quy trình lưu kho, cấp đông.
Giám khảo Trần Lan Anh tiếp tục hỏi dự án muốn ưu tiên thị trường trong nước hay xuất khẩu. Đồng thời, tại sao khách hàng phải mua bánh canh đông lạnh thay vì bánh canh thông thường?
Phía dự án xác định mình không cạnh tranh về giá với sản phẩm chợ mà hướng đến phân khúc cao cấp. Bánh canh hạt sen có giá 105.000 đồng, trong khi bánh canh lá hẹ và bí đỏ ở mức 85.000 đồng. Dự án cho biết đã lưu mẫu thử nghiệm vi sinh và cảm quan trong 18 tháng để chuẩn bị cho mục tiêu xuất khẩu sang Mỹ và châu Âu.
Một điểm đáng chú ý khác là việc tận dụng 30–40% lượng lá hẹ dư thừa hoặc bị dội chợ của nông dân để đưa vào sản xuất.
Chả cá rô phi, mô hình tuần hoàn nhưng biên lợi nhuận mỏng
Dự án TP. Cần Thơ là Chả cá Rô phi nước lợ Hòa Đê của nhóm Bùi Thị Ngọc Hân, Huỳnh Thị Ly, Lý Mộng Ngon đang xây dựng vùng nguyên liệu 65 ha theo mô hình sinh thái tuần hoàn, kết hợp ao lắng, nuôi tôm, cá và trồng lúa.
Điểm đáng chú ý là phụ phẩm cá không bị bỏ đi. Đầu, xương, ruột cá được tận dụng làm dịch đạm. Dự án cho biết mỗi năm có thể sản xuất 29.000 lít dịch đạm, mang lại lợi nhuận 75 triệu đồng. Giai đoạn 2024 đến tháng 8/2026, dự án đạt doanh thu 484 triệu đồng, lợi nhuận 47 triệu đồng. Tuy nhiên, biên lợi nhuận hiện chỉ khoảng 6–11%.
Giám khảo Trần Nguyễn An Ninh tập trung vào mức giá 145.000 đồng/kg. Rô phi là loại cá phổ biến, giá tương đối dễ tiếp cận, vậy cơ sở nào để dự án đưa ra mức giá này?
Giám khảo Nguyễn Khắc Minh Trí hỏi them, với mức lợi nhuận 6–11%, sau khi tính thêm chiết khấu đại lý và vận chuyển đông lạnh, phần còn lại có thể rất mỏng. Ông đặt vấn đề liệu dự án có cách nào tối ưu hóa chi phí để tăng lợi nhuận hay không. Đồng thời, ông đánh giá việc tận dụng dịch cá làm phân bón là hướng cần tiếp tục đẩy mạnh.
Dự án cho biết giá vốn chả cá tươi là 101.000 đồng/kg, chả chiên 155.000 đồng/kg. Sản phẩm được định vị cạnh tranh với chả cá thác lác, vốn có giá thị trường cao hơn. Về phân phối, HTX tập trung bán sỉ cho đại lý, nhà hàng, quán ăn gia đình và bếp ăn công nghiệp lớn, để bên mua chịu chi phí vận chuyển nhằm hạn chế ảnh hưởng đến biên lợi nhuận.
Một số hình ảnh:


Trần Quỳnh – Tường Anh


















