Thời tiết khắc nghiệt – Thách thức chưa từng có với người nuôi tôm

Biến đổi khí hậu, nắng nóng kéo dài cùng sự xuất hiện của hàng loạt mầm bệnh mới đang đẩy nghề nuôi tôm vào giai đoạn đầy thách thức. Không chỉ đối mặt với áp lực chi phí sản xuất tăng cao và giá tôm biến động, người nuôi còn phải chống chọi với các dịch bệnh nguy hiểm như EHP, TPD hay hoại tử gan tụy cấp ngày càng khó kiểm soát. Trước thực tế đó, nhiều chuyên gia cho rằng ngành tôm cần thay đổi tư duy từ “trị bệnh” sang “phòng bệnh tổng hợp”, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, cải thiện con giống và quản lý môi trường nuôi để thích ứng bền vững. Những vấn đề này được các chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp chia sẻ tại Hội nghị Khoa học Thủy sản 2026 do Trường Thủy sản – Đại học Cần Thơ phối hợp cùng Vemedim tổ chức ngày 6/5.
ThS Trình Trung Phi – Tập đoàn Việt Úc, cho rằng nghề nuôi tôm hiện nay đang đối mặt với những thách thức chưa từng có do mầm bệnh luôn thường trực và biến đổi phức tạp. Chúng ta không thể dựa vào phương pháp xử lý hóa chất truyền thống vì vi khuẩn có thể tái xuất hiện chỉ sau vài ngày xử lý Clor. Trong bối cảnh giá tôm biến động mạnh và giá thành sản xuất tại Việt Nam vẫn ở mức cao so với thế giới, việc chuyển đổi tư duy từ trị bệnh sang phòng bệnh là yếu tố sống còn.
Các dịch bệnh “truyền thống “và những mầm bệnh mới như EHP (vi bào tử trùng) làm tôm chậm lớn, kéo dài thời gian nuôi và tăng chi phí sản xuất hay TPD (bệnh mờ đục trên hậu ấu trùng) đang gây khó khăn nghiêm trọng cho người nuôi tôm.
Về mặt kỹ thuật, ThS Phi khẳng định con giống chính là nền móng của cả vụ nuôi khi quyết định tới 40% tỉ lệ thành công. Tập đoàn Việt Úc hiện đang tập trung nâng cao chất lượng di truyền và khuyến khích người dân áp dụng quy trình ươm vèo ít nhất 20 ngày trong nhà màng để tôm đạt sức đề kháng tốt nhất trước khi thả ra ao nuôi lớn. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ siêu âm điện hóa trong xử lý nước đầu vào được đánh giá là bước đột phá, giúp giảm chi phí vận hành đáng kể so với dùng Clo, đồng thời loại bỏ tạp chất hữu cơ và kim loại nặng một cách triệt để. Cuối cùng, người nuôi nên giảm mật độ thả để đảm bảo môi trường bền vững, tránh việc quá tải gây rủi ro dịch bệnh.
“Quản lý sức khỏe và kiểm soát dịch bệnh tôm trong điều kiện hiện nay” là việc cấp bách, GS TS Vũ Ngọc Út – Hiệu trưởng Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ, nhận định ngành tôm đang đối mặt với những “nút thắt” kỹ thuật lớn.
ThS Lê Thành Cường – Đại học Nha Trang cảnh báo về các biến thể vi khuẩn gây bệnh hoại tử gan tụy cấp có khả năng đột biến mất gen độc lực để ẩn mình trước các bộ kit kiểm tra. Ông cũng lưu ý bệnh mờ đục trên ấu trùng gây tỷ lệ chết nhanh và tổn thương hệ tiêu hóa tôm giống. Với bệnh EHP, bào tử có khả năng bám dính dai dẳng trên các thiết bị ao nuôi như van ống khí.
EHP là kẻ thù thầm lặng vì dù không gây chết hàng loạt nhanh chóng nhưng lại khiến tôm chậm lớn, gây thiệt hại kinh tế nặng nề. Về hiện tượng đục cơ vào mùa nắng nóng, ông nhấn mạnh kết quả của việc vi khuẩn tấn công tế bào cơ khi tôm bị stress do môi trường khắc nghiệt.
PGS TS Nguyễn Như Trí – Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM tiếp cận vấn đề từ góc độ dinh dưỡng và di truyền. Ông Trí cho biết tốc độ tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng đã tăng khoảng 3 lần trong 30 năm qua nhờ thành tựu chọn giống. Những dòng tôm tốt hiện nay có thể tăng trưởng trung bình từ 3-4g/tuần. Khi tôm tăng trưởng càng nhanh, nhu cầu đạm càng cao, có thể lên tới 45% đối với các dòng siêu tăng trưởng, giai đoạn ươm vèo (3 tuần đầu) nên dùng thức ăn chất lượng cao nhất với hàm lượng đạm từ 43-50%. Việc sử dụng máy cho ăn tự động giúp tôm tiếp cận thức ăn ngay khi rơi xuống, hạn chế việc ngâm thức ăn quá lâu gây tan mất chất dinh dưỡng và ô nhiễm nước. Ông cũng chia sẻ mô hình từ Thái Lan, ứng dụng nhiệt độ nước 32,4°C trong 7 ngày ở giai đoạn ươm để ức chế mầm bệnh đốm trắng và bổ sung định kỳ Vitamin, khoáng chất, men vi sinh và enzyme tiêu hóa để tăng cường sức khỏe đường ruột cho tôm.
Ông Tạ Văn Hùng, người nuôi tôm 15 năm kinh nghiệm tại Vĩnh Châu, Sóc Trăng (nay là TP Cần Thơ) nói rằng thời tiết nắng nóng và môi trường biến động ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tôm. Hầu hết người nuôi đang đối mặt với dịch bệnh phức tạp như EHP, đốm trắng, đỏ thân gây thiệt hại nặng. Trong khi đó, chi phí đầu vào (thức ăn, điện, xăng dầu…) đều tăng mạnh gây áp lực lên lợi nhuận.
Để cải tiến, ông đã áp dụng công nghệ vi sinh xử lý nước và tự động hóa một phần quy trình. Hệ thống hạ tầng được chuyển đổi sang tách biệt kênh cấp và xả nước, xây dựng lại ao lắng để đảm bảo nước sạch. Quy trình nuôi tuân thủ tiêu chuẩn ASC, kiểm soát chặt kháng sinh để phục vụ xuất khẩu. Hiện tại, sản lượng tôm đạt gần 100 tấn/năm. 80% sản lượng cung cấp cho các đối tác lớn như Minh Phú, Thủy sản sạch, Khánh Sủng chế biến xuất khẩu. Tôm size lớn từ 30 con/kg trở lên cung ứng cho thị trường nội địa tại Hà Nội, Huế và TP.HCM.
Biến đổi khí hậu, nhiệt độ tăng cao, xâm nhập mặn tạo điều kiện cho mầm bệnh bùng phát. Việc nuôi mật độ siêu thâm canh nếu không quản lý tốt nước thải sẽ gây ô nhiễm hữu cơ và phát sinh dịch bệnh. Để thích ứng với nắng nóng, người nuôi nên tăng mực nước ao và tăng cường quạt khí. Ngoài ra, việc ứng dụng năng lượng mặt trời giúp tiết giảm chi phí điện vận hành. Việc chọn con giống sạch bệnh, chất lượng cao là yếu tố tiên quyết. Người nuôi nên sử dụng chế phẩm vi sinh để ổn định môi trường thay vì lạm dụng hóa chất. Cần chú trọng dinh dưỡng để tăng sức đề kháng tự nhiên cho tôm…
Theo GSTS Trương Quốc Phú – Trường Thủy sản – Đại học Cần Thơ, cần đề cao nguyên tắc “Phòng bệnh tổng hợp”. Nguồn nước cấp phải đảm bảo số lượng, chất lượng, được lắng lọc và khử trùng nghiêm ngặt. Con giống cần khỏe mạnh và đã qua kiểm định. Chế độ dinh dưỡng phải đầy đủ để tăng sức đề kháng. Công tác chăm sóc cần theo dõi sát các chỉ số NH3, NO2, … và nồng độ Oxy hòa tan. Đặc biệt lưu ý việc quản lý khoáng chất, nhất là trong môi trường độ mặn thấp, để tôm có đủ vật chất tạo vỏ mới khi lột xác. Về xử lý nước thải, nên sử dụng thực vật thủy sinh để hấp thụ chất dư thừa. Việc tận dụng vi khuẩn có lợi đối kháng với mầm bệnh giúp môi trường sạch hơn và có thể tái sử dụng nước.
Còn TS Lê Thị Hải Yến – Phó Giám đốc Trung tâm R&D Vemedim  cho biết khi triển khai giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học (probiotic) để nuôi tôm không kháng sinh, Vemedim tập trung tuyển chọn các chủng vi sinh như Bacillus subtilis VL28 có khả năng chịu độ mặn tới 40‰ và sống sót trong dải pH 2–5. Công nghệ sản xuất sấy tầng sôi và hệ thống lên men tự động giúp bảo toàn hoạt tính vi sinh. Dòng sản phẩm lỏng của đơn vị ứng dụng công nghệ độc quyền giữ hoạt độ nước < 0.6 để ổn định vi sinh mà không cần chất bảo quản.
TS Hải Yến cho hay, các sản phẩm như VS PRO, Pond MAX giúp phân hủy chất hữu cơ và giảm khí độc chỉ sau 12–24 giờ sử dụng. Sản phẩm PRO Garlic kết hợp vi sinh và cao tỏi đen giúp tôm tăng đề kháng, làm ruột to và gan khỏe. Thực nghiệm tại Cà Mau, Bạc Liêu cho thấy các giải pháp này giúp tăng tỷ lệ sống thêm 9,9% – 13,8%, giảm bệnh phân trắng 55,1% và cải thiện hệ số FCR đáng kể.
Ngọc Bích