Áp lực tăng vốn

Nhiều năm qua, cứ đến mỗi kỳ đại hội cổ đông (ĐHCĐ) các ngân hàng đều trình cổ đông việc tăng vốn. Năm 2014 cũng không ngoại lệ, một số ngân hàng đã “đánh tiếng” kế hoạch tiếp tục tăng vốn điều lệ trước áp lực tái cơ cấu đảm bảo tăng trưởng. Nhưng liệu kế hoạch này có đạt như đề ra?

Tăng vốn là một áp lực không hề nhỏ đối với các ngân hàng. Ảnh: Internet.

Quay trở lại thời điểm 2010, khi Nghị định 141/2006 của Chính phủ đưa ra ngày 20/5/2010, buộc các ngân hàng phải đảm bảo nâng vốn lên tối thiểu 3.000 tỉ đồng. Lúc đó, trong 39 ngân hàng thương mại cổ phần đang hoạt động có tới 24 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 3.000 tỉ. Trong đó có 15 ngân hàng có vốn dưới 2.000 tỉ đồng và tám ngân hàng có vốn quanh mức 1.000 tỉ đồng. Liên tục cho đến nay, đi cùng các quy định, các ngân hàng vẫn tiếp tục chạy đua trên cuộc đua tăng vốn lên 1.000 tỉ, 3.000 tỉ rồi đến 5.000 tỉ. Đây là một áp lực không hề nhỏ đối với các ngân hàng, nhưng việc tất cả các ngân hàng lớn nhỏ đều phải tăng vốn lên mức như thế, đây là một áp lực khó mà thực hiện đồng đều được.

Đến năm 2013, khá nhiều ngân hàng đã thông qua kế hoạch tăng vốn từ những tháng đầu năm nhưng đa phần đều không thành công do chưa tìm kiếm được nhà đầu tư rót vốn. Đến năm nay, các ngân hàng lại tiếp tục kế hoạch tăng vốn với tỷ lệ khá cao, lên tới gần 40% vốn.

Kế hoạch tăng vốn của một số ngân hàng năm 2014 (Đvt: tỷ đồng)

Qua các năm, các phương thức phổ biến mà ngân hàng đề ra để tăng vốn điều lệ như chia cổ tức bằng cổ phiếu, chia cổ phiếu thưởng và phát hành cho nhà đầu tư hay đối tác chiến lược, lên kế hoạch bán cổ phần cho đối tác ngoại để nâng cao tiềm lực tài chính, đẩy nhanh tái cơ cấu. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường hiện nay, nhất là khi NHNN đang đẩy mạnh tái cơ cấu ngành, với các nhà băng nhỏ, quản trị yếu kém chưa hẳn hấp dẫn nhà đầu tư ngoại. Vì thế, con đường ngắn nhất vẫn là chọn M&A để tồn tại và phát triển. Dù bằng cách này hay cách khác, mỗi bước đi này đều đòi hỏi sự tính toán kỹ lưỡng. Một mặt nào đó, các phương thức này cũng gây ra không ít những ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống ngân hàng.

Sở hữu chéo bằng vốn ảo

Việc tăng vốn đồng đều giữa các ngân hàng không phân biệt lớn, nhỏ thực sự không phải là một việc dễ dàng, thậm chí là “bất khả thi” với nhiều ngân hàng nhỏ, nó đòi hỏi nhiều tính toán, “thủ thuật”. Trong đó không thể không kể đến huy động phát hành cổ phiếu. Nhưng chứng khoán suốt từ năm 2008 đến nay rơi vào tình trạng sụt giảm nên việc tăng vốn rơi vào bế tắc. Đó cũng chính là lý do Chính phủ gia hạn thời gian tăng vốn đến cuối năm 2011. Nhưng chứng khoán năm 2011 còn sụt giảm mạnh hơn, đặc biệt là tình trạng mất thanh khoản kéo, nên việc phát hành thêm, niêm yết hay kêu gọi sự tham gia của cổ đông chiến lược trong và ngoài nước càng khó. Vậy mà, các ngân hàng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tăng vốn lên 3.000 tỉ đồng và liên tục cho đến nay vẫn hoàn thành nhiệm vụ. Chưa kể nhiều ngân hàng lớn, dù không nằm trong nhóm phải chạy đua tăng vốn theo quy định cũng liên tục công bố tăng vốn thêm từ một ngàn tới vài ngàn tỉ.

Ảnh: Internet

Các ngân hàng tận dụng tối đa sở hữu chéo để thực hiện việc tăng vốn trong thời điểm thị trường tài chính cực kỳ khó khăn. Với sở hữu chéo, các ngân hàng có thể “lách” thông qua việc vay vốn từ ngân hàng này góp cho ngân hàng kia và ngược lại. Như vậy, cả 2 ngân hàng liên quan đều báo cáo tăng vốn, các ông chủ NH cũng tăng sở hữu nhưng thực chất là tăng ảo. Số vốn thực tế giữa 2 ngân hàng vẫn giữ nguyên nhưng trên sổ sách đã tăng lên. Đó là chưa tính đến việc sở hữu chéo chằng chịt, 1 ngân hàng là cổ đông của 4 – 5 ngân hàng khác. Vậy 2.000 tỷ chưa chắc là 2.000 tỷ, 5.000 tỷ thực sự chưa chắc đã là 5.000 tỷ… Với chừng đó ngân hàng thì phần vốn ảo sẽ là bao nhiêu?

Đó là chưa kể khi được sử dụng thông qua công ty chứng khoán, số vốn ảo này còn được “phình” to với tỷ lệ margin khá cao, lên tới 90% cho khách VIP. Nghĩa là có 10 đồng, được sử dụng 100 đồng để mua CP. Khi mọi người, mọi doanh nghiệp, mọi ngân hàng đều đổ tới thị trường chứng khoán, tài sản trên vốn ảo tăng lên, con số 5.000 tỷ đó phải tăng lên 5 lần, 10 lần, 20 lần, nhưng tất cả chỉ là tăng trên những cái đã không có thực.

Không chỉ có vậy, lỗ hổng trong quản lý (các công ty đầu tư tài chính hiện không bị quản lý bởi bất cứ luật chuyên ngành nào) khiến một cá nhân, một nhóm lợi ích có thể biến số vốn nhỏ ban đầu phình lên gấp nhiều lần. Điều này dẫn đến việc con số 2.000 tỷ, 5.000 tỷ ban đầu phình ra nhiều lần hơn nữa. Chỉ với 1 đồng vốn, qua nhiều cách, người ta có thể đẩy lên thành hàng trăm đồng, tạo thành một ma trận vốn ảo. Từ đây sẽ nảy sinh ra nhiều hệ lụy khác từ các “thủ thuật” như: dùng vốn ảo để thâu tóm sau đó rút vốn thật từ ngân hàng đầu tư cho sân sau, gia tăng vốn ảo từ sở hữu chéo, vốn ảo từ sử dụng tỷ lệ margin, từ quan hệ… Những yếu tố này sẽ phá vỡ thị trường lãi suất, từ đó làm méo mó thị trường tiền tệ, mà trong cái cáo trạng của ACB vấn đề làm lệch lãi suất tiền tệ làm đụng chạm đến vấn đề an ninh tiền tệ.

Những hệ quả này bắt nguồn từ việc đặt áp lực tăng vốn cho các ngân hàng. Liệu việc tăng vốn này có giống trong Black Swan, tưởng tăng vốn cho ngân hàng mạnh lên là tốt nhưng thực sự ra đây là tác hại vô cùng trong hệ thống ngân hàng?

Viết bởi BSA