Lợi thế của các doanh nghiệp Việt là am hiểu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng, biết rõ sự khác nhau giữa thị trường Nam và Bắc, thị trường đồng bằng sông Hồng và miền núi, biên giới, hải đảo và sự năng động, nhanh nhạy đáp ứng các yêu cầu thay đổi của người tiêu dùng.

Chuyên gia kinh tế, tiến sĩ Lê Đăng Doanh

Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, thị trường thế giới rộng mở đã cuốn hút nỗ lực của doanh nghiệp Việt vươn ra các nước. Xuất nhập khẩu tăng mạnh, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 242 nền kinh tế trên thế giới. Mặc dầu thương mại quốc tế gặp nhiều khó khăn, như chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, kim ngạch xuất khẩu năm 2019 của Việt Nam vẫn đạt 264 tỷ USD, tăng 8,4% so với năm trước.

Thêm nhiều đối thủ ngoại ở sân chơi nội

Đồng thời, thực hiện các cam kết quốc tế đã ký kết, Việt Nam đang thúc đẩy mở rộng thị trường nội địa với gần 100 triệu dân, 60% trong tuổi lao động, thích mua sắm, chi tiêu hộ gia đình có thể đạt 714 USD/tháng vào năm 2020, doanh số thị trường nội địa năm 2020 có thể đạt 180 tỷ USD. Thị trường Việt Nam đã nhanh chóng thu hút các “đại gia” như Metro, Lotte, Parkson, Aeon… tham gia. Với Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), thị trường Việt Nam đã trở thành một bộ phận không tách rời của 666 triệu dân ASEAN. Bản chất của khái niệm “thị trường nội địa” đã thay đổi hoàn toàn, tư duy coi thị trường trong nước là “sân nhà” yên ổn của các doanh nghiệp Việt cũng không còn như trước đây. Ngược lại, cạnh tranh diễn ra gay gắt ngay trên thị trường trong nước, làm cho không ít doanh nghiệp giật mình. Các tập đoàn lớn của ASEAN với lợi thế vốn lớn hơn, kinh nghiệm lâu năm hơn đã nhanh chóng tràn vào. Central Group của Thái Lan đã mua Big C, ngay trong tháng 5 2020, tập đoàn Central Retail của Thái Lan đã mua chuỗi siêu thị Nguyễn Kim, JC&C đã mua 10% cổ phần của Vinamilk, sự kiện này thu hút sự chú ý của công chúng. Dòng vốn dịch chuyển từ đầu tư mới sang mua cổ phần đã xuất hiện từ lâu, song trong năm 2019, hình thức đầu tư, mua bán và sáp nhập (M&A) ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và tốc độ tăng nhanh.

Theo báo cáo của bộ Kế hoạch và đầu tư về thu hút vốn FDI, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong bốn tháng đầu năm (tính đến ngày 20/4/2020) đạt 12,33 tỷ USD, bằng 84,5% so với cùng kỳ năm 2019.

Dòng vốn này tập trung chủ yếu vào các ngành, lĩnh vực như công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hơn 1 tỷ USD, chiếm 40,6% tổng vốn; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 508,2 triệu USD, chiếm 20,5%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 250,3 triệu USD, chiếm 10,1%; các ngành còn lại đạt 713 triệu USD, chiếm 28,8%. Các nhà bán lẻ trong nước đa số là nhỏ, lẻ, tiềm lực hạn chế và ít liên kết với nhau, sau đại dịch COVID-19, không ít cửa hàng đã phải đóng cửa. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng lên.

Với tháng 8/2020 này, hiệp định Thương mại tự do EU – Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực, bên cạnh lợi thế về xuất khẩu, Việt Nam cũng mở cửa thị trường trong nước cho hàng hoá từ Liên minh châu Âu (EU), sức ép cạnh tranh lên thị trường nội địa lại tiếp tục tăng lên trên những mảng thị trường mới nữa.

Lo ngại đã xuất hiện nếu công ty nước ngoài chiếm lĩnh thị trường nội địa, họ có thể tạo ra cạnh tranh bất bình đẳng với nhà sản xuất trong nước, bằng cách tăng phí đối với sản phẩm nội địa, tăng tỷ lệ sản phẩm của nước họ trên thị trường bán lẻ trong các siêu thị mà họ đã thâu tóm được. Trước tình hình đó, Vingroup, FPT, Thế Giới Di Động, Masan Group… đã tăng cường đầu tư vào thị trường bán lẻ, nhằm nắm giữ thị phần của thị trường trong nước. Cuộc cạnh tranh giữa các siêu thị bán lẻ nước ngoài và doanh nghiệp bán lẻ trong nước ngày càng khốc liệt hơn.

Lợi thế của các doanh nghiệp Việt là am hiểu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng, biết rõ sự khác nhau giữa thị trường Nam và Bắc, thị trường đồng bằng sông Hồng và miền núi, biên giới, hải đảo và sự năng động, nhanh nhạy đáp ứng các yêu cầu thay đổi của người tiêu dùng.

Tái cơ cấu thị trường nội địa

Đại dịch Covid-19 với các biện pháp phong toả, là cơ hội thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam chiếm lĩnh thị trường trong nước. Đại dịch đã tác động rất mạnh đến thị trường bán lẻ. Theo bộ Công thương, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng xã hội bốn tháng đầu năm 2020 đã giảm 4,27% so với cùng kỳ năm trước. Tần suất mua sắm, cơ cấu tiêu dùng, giá trị mua sắm suy giảm, phương thức mua sắm của từng gia đình cá nhân người tiêu dùng có nhiều thay đổi một cách nhanh chóng, sang một thái cực mới để phù hợp với việc chống dịch, như: giãn cách, cách ly xã hội, hạn chế đi lại… Trừ một số nhóm hàng như lương thực thực phẩm thiết yếu, hàng hoá tiêu dùng nhanh, thiết bị phòng dịch, y tế là có tăng trưởng, còn lại các nhóm ngành hàng khác đều bị suy giảm mạnh.

Vì vậy, cần có nỗ lực thiết thực cắt giảm chi phí về thời gian và tiền bạc ở các bến cảng, các khâu vận tải, bốc xếp… để hàng Việt Nam có thể chiếm lĩnh thông suốt thị trường từ Nam ra Bắc, cạnh tranh có hiệu quả với hàng nhập khẩu.

Một đặc điểm của thị trường nội địa hiện nay là vai trò của chợ truyền thống đang tồn tại và hoạt động có hiệu quả, bao gồm các chợ và cửa hàng bán lẻ vẫn đang chiếm lĩnh trên 70% doanh số và trên 80% về những mặt hàng tươi sống, để phục vụ nhu cầu hàng ngày của người dân ở thành thị và nông thôn. Chợ truyền thống và các cửa hàng bán lẻ phục vụ từ sáng đến tối rất cần được hỗ trợ, nâng cấp để trở thành căn cứ cho hàng hoá Việt Nam, giữ vững thị phần và khách hàng. Đáng tiếc là có một số địa phương, ban, ngành có nơi, có lúc đã đánh giá quá thấp các kênh tiêu thụ truyền thống này, dẫn đến hạ tầng chợ dân sinh ở một số nơi bị xuống cấp, trở nên nhếch nhác, giảm sức hút đối với người tiêu dùng trẻ, hiện đại.

Cơ quan nhà nước các cấp cần hỗ trợ sự kết nối giữa các khâu sản xuất – vận chuyển – tiêu dùng, đặc biệt chú ý đến khâu thu mua tiêu thụ sản phẩm, khắc phục tình trạng thương lái ép giá, chiếm tỷ trọng quá lớn lợi nhuận ở các khâu trung gian.

Thị trường nội địa Việt Nam phải tái cơ cấu, trở thành thị trường văn minh, hiện đại, tiện lợi hơn bằng cách vận dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, thương mại điện tử, giao hàng tận nhà, thanh toán không dùng tiền mặt… Các hiệp hội cùng với các ban ngành, hợp tác với các viện trường, ngân hàng thúc đẩy mạnh mẽ xu thế này, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ Việt Nam, bảo vệ và nâng cao thị phần trên thị trường nội địa Việt Nam.

Để thúc đẩy sản xuất thời hậu Covid-19, hơn bao giờ hết, cần đẩy mạnh việc vận động thực hiện phong trào “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, trở thành một phong trào ăn sâu bám rễ vào mỗi người Việt Nam. Hàng Việt Nam phải chinh phục được người tiêu dùng Việt Nam, phù hợp với thói quen tiêu dùng của người Việt ở mỗi vùng, miền. Hàng hoá và dịch vụ Việt Nam phải đối mới năng động, vận dụng tiến bộ khoa học – công nghệ đạt trình độ khu vực và thế giới để có thể cạnh tranh bình đẳng với các sản phẩm nước ngoài đang ồ ạt tràn vào nước ta.

Lê Đăng Doanh (Theo TGHN)

Viết bởi Quỳnh Trần