Bỏ ghi ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
      E-mail        
Bối rối với đối tác! Theo quy định tại luật Doanh nghiệp (DN) 2014 (có hiệu lực từ ngày 1.7.2015), trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN) sẽ không còn nội dung ghi về ngành nghề kinh doanh của DN nữa. Điều này khiến cho nhiều DN bối rối vì thiếu thông tin để đánh giá và ký kết hợp đồng với đối tác.

Công ty A chuyên sản xuất và kinh doanh sản phẩm nước uống, ký hợp đồng với nhiều nhà phân phối (đại lý) tại các địa phương. Lâu nay, để tránh trường hợp nhà phân phối bán kèm sản phẩm cùng loại hoặc tự sản xuất, đồng thời xác định lĩnh vực kinh doanh có phù hợp làm đại lý hay không, công ty A vẫn yêu cầu các đại lý khi ký hợp đồng phải cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKKD), để xem xét ngành nghề kinh doanh của đối tác.


Thế rồi, một DN khi gửi Giấy chứng nhận thành lập DN (GCNTLDN) cho công ty A thì không thấy phần nội dung ngành nghề kinh doanh, vì doanh nghiệp này thành lập tháng 12.2015, sau khi luật DN đã có hiệu lực. Điều này đã làm công ty A cảm thấy rất lúng túng, không biết phải dựa vào cơ sở nào để đánh giá đối tác?


Công ty A phải đến gặp luật sư để nhờ tư vấn.




Hình minh họa. Nguồn: Internet

Sản xuất phần mềm, làm dịch vụ… vận tải 


Mới đây, công ty B, chuyên bán hàng trên mạng internet, có kế hoạch ký một hợp đồng dịch vụ vận chuyển hàng hoá với một đối tác (công ty C). Cụ thể là khi khách hàng mua một sản phẩm online, thì C sẽ cử người tới nhận hàng từ B để đem giao cho khách hàng. Tôi là luật sư DN B, nên muốn tìm hiểu về năng lực pháp lý của C trước khi ký hợp đồng.


Thế nhưng, C lại mang một cái tên có gắn nhóm từ “giải pháp công nghệ” và trên GCNTLDN của công ty này không ghi ngành nghề kinh doanh. Hỏi thì được biết DN này chuyên sản xuất các phần mềm ứng dụng, giải pháp công nghệ. Vậy người ở đâu mà B nhận giao hàng? Câu trả lời nghe muốn… té ngửa:  họ sẽ hợp tác với các đối tác khác, cụ thể là những người… chạy xe ôm!


Nói chung, việc công ty C cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá không phải là lĩnh vực cấm kinh doanh và về nguyên tắc có thể thực hiện được. Nhưng về “bề nổi”, thì họ là một DN trong lĩnh vực công nghệ thông tin, không liên quan gì đến vận tải. Và khi làm hồ sơ đăng ký thành lập DN, họ cũng khai là sản xuất phần mềm. Thế mà, thực tế họ lại kinh doanh một ngành khác là… vận tải hàng hoá! Quả không biết đường nào mà lần!

 

Cần cẩn thận hơn trong đánh giá, thoả thuận hợp đồng


Thắc mắc của công ty A cũng là thắc mắc chung của nhiều người, nhiều doanh nghiệp. Khi nhìn vào GCNĐKDN thì sẽ không biết được DN đó đang kinh doanh cái gì, lĩnh vực nào. Trong khi trước đây thì lại biết rất rõ ràng. Qua vài ví dụ từ thực tế cuộc sống, tôi cho rằng quy định mới, không ghi ngành nghề kinh doanh, có điều gì đó không ổn.


Vì ai cũng hiểu GCNĐKDN là tài liệu pháp lý rất quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất, có thể xem như “giấy khai sinh” của một DN. 


Trong trường hợp công ty A, tôi có nêu ý kiến tư vấn của mình là tuy trên GCNĐKDN không ghi ngành nghề kinh doanh, nhưng theo quy định tại luật DN 2014 (điều 24, về nội dung Giấy đề nghị đăng ký DN) thì khi thành lập DN, chủ DN vẫn phải ghi ngành nghề kinh doanh. Và việc ghi ngành nghề kinh doanh vào Giấy đề nghị đăng ký DN theo luật mới nhìn chung vẫn thực hiện theo như quy định trước đây. Cho nên công ty A có thể yêu cầu phía nhà phân phối cung cấp hồ sơ thành lập DN để xác định xem họ đã đăng ký ngành nghề kinh doanh nào, có phù hợp với tiêu chí chọn nhà phân phối của công ty A hay không?


Ngoài ra, trong hợp đồng đại lý sẽ ký phải bổ sung thêm nội dung quy định phía công ty nhận đại lý phải cam kết không sản xuất hay kinh doanh sản phẩm cùng loại… Vì rõ ràng nếu chỉ nhìn vào GCNĐKDN không thôi thì chưa đủ và cũng không có gì chắc chắn, chính xác. Chưa kể là theo quy định tại luật mới, thì việc đăng ký bổ sung, thay đổi ngành nghề kinh doanh cũng khá dễ dàng và có thể làm thủ tục sau khi đã thay đổi. Công ty A sẽ rất khó kiểm tra, giám sát được vấn đề này.


Tóm lại, về quy định mới nêu trên, đã có nhiều chuyên gia nêu ý kiến cho rằng đây là cải cách “nửa vời”, không giảm tải thủ tục hành chính cho ngay chính chủ DN khi đăng ký thành lập DN.


Mặt khác, nếu như theo luật DN trước đây (2005), có quy định DN phải hoạt động kinh doanh đúng ngành, nghề ghi trong GCNĐKKD, thì nay sẽ thật khó mà biết là một DN có đang kinh doanh đúng ngành nghề mà mình đã đăng ký với cơ quan cấp giấy hay không? Nếu không, thì có sai luật, vi phạm pháp luật hay không? Và các DN liên đới làm ăn, ký kết hợp đồng có liên quan hay có trách nhiệm gì hay không – trong trường hợp DN hoạt động không đúng lĩnh vực mà DN này đăng ký. 


Từ thực tiễn, tôi cho rằng việc ghi ngành nghề kinh doanh trên GCNĐKDN, như quy định trước đây, vẫn hoàn toàn cần thiết, hợp lý. 



LS Trần Hồng Phong

 

In bài
  Ý kiến của bạn
Họ tên : E-mail (*):
Tiêu đề :
Nội dung ý kiến :
Lưu ý: (*) là bắt buộc nhập
Các tin khác
Xem theo ngày :
Quảng cáo 2nd
"Đột nhập" cơ sở làm ...
 
ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN BSA
 
Flash MP3 Player
12 CA KHÚC
Hát về hàng Việt

  QUẢNG CÁO 
Designed & Implementation by VietPho Co., Ltd.